|
Mùa
Lạc
Sáng, mây bốc mù chân núi, vây
quanh lấy cánh đồng Điện Biên, nhưng
trên đỉnh chóp lại hết sức trong
trẻo trông thấy rõ những thân cây đứng
trơ trụi và thấp thoáng mấy vệt
trắng của mái nhà người Mèo. Đằng
đông ửng dần lên những mảng sáng óng ánh
vàng như vỏ trai, và hơi gió rất mát mẻ
lay động những ngọn lá lăn tăn
của cây me dại và cây rút đồng.
Bãi trồng lạc ở cánh
đồng phía tây Hồng Cúm trải ra từ chân
khu nhà ở của đội sản xuất số
"6" mênh mông cho mãi tới giáp rừng.
Giữa cái màu xanh lặng lẽ của lá lạc, lá
cỏ nghệ và rút đồng, nổi lên một
điểm vàng sẫm của mấy mảnh gianh và
lá cót đan lẫn lên nhau. Đấy là nơi sinh
động nhất của toàn bãi: tiếng chân
đạp trên bàn gỗ rình rịch, tiếng vòng
trục quay ù ù của ba cái máy tuốt lạc,
tiếng bàn cào rê lạo sạo trên mình vỏ
lạc thu gọn lại ở khoảng giữa. Mùi
hăng của thân lạc tươi mới nhổ
xếp lớp lớp trên các cáng và mùi ẩm ướt
nồng nồng của những cây lạc đã
tuốt đánh đống phơi mưa suốt
đêm qua. Bụi bốc mờ mờ từ cả
mấy phía, và những chấm cánh nâu của con sâu
ban miêu bay sè sè vụt qua vụt lại. Mồ hôi
đã thấm hết lần áo ngoài những người
đạp máy, khuôn lấy hình người, hằn
rõ những mảng thịt ở ngực, ở
bả vai và vế đùi. Chiếc máy giữa và
chiếc máy ở phía tay trái do sáu người đạp
còn chiếc máy bên phải chỉ có Huân tổ viên
tổ 1 và Đào tổ viên tổ 4 đứng.
Đào thuộc loại người gặp một
lần có thể nhớ mãi, rất dễ phân
biệt với chị em khác. Hai con mắt hẹp và
dài đưa đi đưa lại rất nhanh, gò
má cao đầy tàn hương, và hàm răng trên hơi
hô một chút. Chị bịt đầu bằng
chiếc khăn vải kẻ ô vuông buông một
vạt dài ra phía sau khiến những nét thiếu hòa
hợp trên mặt càng trở nên thô, càng đỏng
đảnh.
Đứng cạnh người
đàn bà ít duyên dáng ấy là Huân, một thanh niên
chưa tròn hai mươi nhăm tuổi, khỏe và
đẹp trai. Anh đưa cặp mắt màu nâu
nhạt ẩn dưới đôi lông mày rất
đen và mịn như nét vẽ sang phía Đào.
Mồ hôi đã thấm ướt vành khăn,
chảy từng giọt xuống kẽ mắt,
sống mũi. Cái thân người sồ sề
của chị như nở to ra, hổn hển,
cặp chân ngắn đạp xuống bàn gỗ
đã bắt đầu uể oải, nhưng hai bàn
tay vẫn thoăn thoắt quơ ra phía sau lấy
từng bó lạc, và bằng cử chỉ rất
nhanh chị uốn hai cổ tay xiết những
rễ cây đầy củ lạc già lên vòng
trục. Huân vứt những thân cây đã tuốt
hết củ sang một bên, nói khẽ:
- Xem ra mệt lắm rồi
nhỉ?
Đôi mắt dài lóng lánh
của Đào liếc sang Huân, phần dưới
mặt hếch hẳn lên:
- Hỏi mình ấy, ý
chừng muốn nghỉ chứ gì !
Huân cười rất to, hai
hàm răng đều trắng lóa.
- Trông đây này!
Anh dún mạnh chân trái
xuống, lập tức nhịp đạp nhanh
hẳn lên, vòng trục xiết vào rễ cây xin xít,
củ lạc bắn rào rào xuống đống
lạc ở khoảng giữa. Cả người
Đào cũng bật lên theo, thớ thịt trên
bả vai khẽ rung rung, hai bàn tay xoay đi xoay
lại càng vội vã. Chị đã quá mệt nhưng
hai gò má đầy tàn hương vẫn nhọn
hoắt bướng bỉnh và đôi mắt nhỏ
tí ánh lên thách thức. Vừa lúc đến giờ
nghỉ mười lăm phút, Huân đã bước
ra, Đào vẫn còn dún thêm mấy đạp,
rồi hai tay chống vào cạnh sườn, chị
nhìn mọi người lơ láo:
- Nghỉ hử, tại sao hôm
nay lại nhức đầu thế, chân tay cứ
bủn nhủn ra!
Chị quay sang nhìn mái tóc xanh
mỡ của Huân, cười mỉm:
- Chịu thua thanh niên thôi!
Lâm, tổ trưởng
tổ 1, nháy con mắt với Đào:
- Chị, à quên, cô cũng còn
đang lứa tuổi thanh niên chứ đã già gì.
Tương lai chán!
Đấy cũng là câu đùa
cửa miệng của nhiều người đối
với Đào, nhưng lần nào nghe nói câu nói
ấy chị cũng buồn tủi như chợt
được biết lần đầu về mình
và chỉ trong chốc lát nét mặt chị đã
thay đổi hẳn. Chị nhìn Lâm hờn dỗi,
rồi ngồi dựa lưng vào đống thân
lạc, giọng cay chua:
- Trâu quá xá, mạ qua thì,
hồng nhan bỏ bị còn gì là xuân nữa hở
các anh?
Lâm liếc nhìn Huân, cười
tinh quái:
- Thế mà vẫn có
nhiều người thương lắm đấy !
Huân vuốt tóc ra phía sau,
cặp mắt rất đẹp của anh nhìn Đào
trìu mến. Đôi gò má cao của chị ửng
đỏ, đôi môi định mím lại nhưng
không chặt, vừa vui sướng vừa như cưỡng
lại sự vui sướng ấy. Chị thở
rất mạnh, với lấy một cây lạc
bứt từng củ một:
- Các anh đã biết đời
em rồi đấy. Mỗi năm một tuổi, cái
tuổi nó đuổi xuân đi. Nồi nào vung
ấy, em đã có bố cháu dưới xuôi
rồi, mai nay bố cháu cũng lên đây xây
dựng xã hội chủ nghĩa cùng với em đấy.
Rồi như chợt nhận
ra trò chơi độc ác của mọi người
bằng cách đem ghép chị là người xấu
nhất của đội sản xuất với Huân,
người đẹp trai nhất, chị tiếc
sự thành thật của mình, việc gì phải
tủi, phải nhún mình, người nào mà chẳng
có cái phần tốt đẹp. Chị nhổm
dậy, đi vài bước tới trước
mặt Huân, ngâm nga:
- "Huê thơm bán một
đồng mười. Huệ tàn nhị giữa giá
đôi lạng vàng". Giá đôi lạng vàng
chứ chưa vị tất đã bán đâu anh Huân
ạ.
Chị còn định nói thêm
vài câu nữa, nhưng khi Huân ngẩng mặt lên,
nhe hàm răng trắng bóng ra cười thì chị
lại muốn quên hết, lại ao ước mình
được trẻ lại, như không bao giờ
có cuộc đời đã qua, mà chỉ có lúc này,
một nữ công nhân trên nông trường Điện
Biên Phủ, một người có quyền được
hưởng hạnh phúc như mọi người
con gái may mắn khác.
Đào lên nông trường
Điện Biên vào dịp đầu năm, ngoài
Tết chừng nửa tháng, với tâm lý con chim bay
mãi cũng mỏi cánh, con ngựa chạy mãi cũng
chồn chân, muốn tìm một nơi hẻo lánh nào
đó, thật xa những nơi quen thuộc để
quên đi cuộc đời đã qua, còn những
ngày sắp tới ra sao chị không cần rõ, đại
khái là chẳng hơn gì trước mấy, có
thể còn gặp nhiều đau buồn hơn. Quân
tử gian nan, hồng nhan vất vả, số
kiếp đã định thế, trước sau
vẫn chỉ một con đường ấy, không
thể nào tránh được. Chị quê ở Hưng
Yên, nhà không có ruộng, vẫn làm nghề đậu
phụ, thời địch tạm chiếm, lại
xoay sang úp men, nấu rượu. Lấy chồng
từ năm mười bẩy tuổi, nhưng
chồng cờ bạc, nợ nần nhiều nên
bỏ đi Nam đến đầu năm 1950
mới trở về quê. Ăn ở nhau được
đứa con trai lên hai thì chồng chết. Cách
mấy tháng sau đứa con lên sài bỏ đi
để chị ở một mình. Từ ngày ấy
chị không có gia đình nữa, đònh gánh trên
vai, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường,
khi ra Hòn Gay, Cẩm Phả lấy muồng, khi ngược
Lào Cai buôn gà, vịt, mùa tu hú kêu sang đất Hà
Nam buôn vải, tháng sáu lại về quê bẻ nhãn.
Khi thì ở chợ Cuối Chắm, ở đò Tràng
Thưa, khi lại về phố Rỗ, chợ Bì,
chợ Bưởi. Mùa hè vài cái áo cánh nâu vá vai, mùa
đông một chiếc áo bông đã bạc, ngày mưa,
ngày nắng, bàn chân đã từng đi khắp
mọi nơi không dừng lại một buổi nào.
Cũng có ngày đau ốm, nằm nhờ nhà người
quen, bưng bát cơm nóng, nhìn ngọn đèn
dầu lại sực nhớ tới trước
đây mình cũng có một gia đình, có một
đứa con, sớm lo việc sớm, tối lo viêc
việc tối. Còn bây giờ bốn bể là nhà,
chỉ lo cho bản thân mình sao được cơm
ngày hai bữa, chân cứng đá mềm. Mái tóc óng
mượt ngày xưa qua năm tháng đã khô
lại, đỏ đi như chết, hàm răng
phai không buồn nhuộm, soi gương thấy gò má
càng cao, tàn hương nổi càng nhiều. Muốn
về sống lại ở quê, nhưng quê hương
nào còn có ai. Thôi đành cứ đi mãi, ngày
khỏe đã vậy, ngày ốm chưa biết ra
sao. Muốn chết nhưng đời còn dài nên
phải sống. Chị sống táo bạo và
liều lĩnh, ghen tị với mọi người
và hờn giận cho thân mình. Chị về đội
sản xuất số "6" chưa đầy
một tháng đã quen khắp mặt, duy chỉ thân
có mỗi Huân, vì tuy anh chưa từng trải
bằng chị, nhưng lại tỏ ra rất thông
cảm với cuộc dời của chị. Lần
đầu tiên hai người quen nhau vào một
buổi chị đi qua dãy nhà bộ đội
thấy Huân đang hí hoáy pha màu vẽ cho tờ báo
tường. Chị đứng khuỳnh tay, ngắm
nghía rồi khen: "Anh vẽ khéo nhỉ!" Huân
nhìn chị cười: "Chị có bài thơ nào
đưa lên báo không?" Câu nói ấy vừa nói
cho vui, vừa hơi châm biếm. Chị gật đầu
nhận lời ngay: "Được thôi, thế
bao giờ đưa nộp?". Huân thầm nghĩ:
"Cô này biết đùa đây", nhưng
vẫn dặn thêm: "Phải là thơ hay đấy!"
Chị trả lời ngang ngược: "à,
chắc không đến nỗi dở lắm".
Chị vốn biết chữ từ nhỏ, lại
thuộc nhiều thơ cổ, các câu ca, hát ví xưa,
khi nói chuyện chị cũng hay vận thành
vần, ví von, nên chỉ có một buổi trưa
chị đã làm xong bài thơ: "Đường
lên nông trường Điện Biên". Ai ngờ bài
thơ lại hay, đưa lên báo có vài buổi
đã nhiều người ngâm nga đọc
thuộc.Anh em thấy một đôi bạn trái ngược
nhau cả về hình thức lẫn tính nết
liền đem họ ra gán ghép. Song chẳng qua đặt
chuyện cho vui để trêu chọc chị thôi.Vì
kể về tuổi thì năm nay chị đã hai mươi
tám, còn nhìn ngoài mà so sánh thì tưởng chị
phải hơn Huân cả chục tuổi. Hơn
nữa Huân đã có người yêu và cặp
ấy rất xứng đôi, còn chị là gái góa
chồng không hy vọng gì được yêu một
người con trai chưa từng có vợ. Nhưng
mỗi buổi đi làm, cùng nhổ lạc ở
một khoảnh, cùng đứng tuốt ở
một máy, nhìn đôi cánh tay cuồn cuộn
những thớ thịt cháy nắng đỏ
rực của Huân thoang thoáng bên cạnh, chị
lại bừng bừng nghĩ tới một cảnh
gia đình hạnh phúc, lại hy vọng cuộc
đời của mình chưa phải đã tắt
hẳn, một cái gì đó chưa rõ nét lắm nhưng
đầm ấm hơn, tươi sáng hơn
những ngày đã qua cứ lấp ló ở phía trước.
Có thể đấy là cuộc đời còn
lại của chị chăng?
Mặt trời đã lặn
từ lâu. Trời xanh như ngọc thạch,
những vệt mây màu khói, màu hồng nhạt, màu
tím nhạt cứ ửng lên ở bốn phía, đan
vào nhau, tô điểm cho nhau rồi nhạt dần
đi, trong mãi, thành một mầu xanh mờ mờ,
cao tít. Những ngọn đèn nhỏ dờn dợt
vàng kéo thành một dãy dọc các khung cửa
của khu nhà bộ đội thấp thoáng như
một dãy phố nhỏ nào đó ở vùng quê.
Tối nay nghỉ học văn
hóa, vì đồng chí giáo viên ở trung đội
1 được cử về Hà Nội thi vào trường
Đại học Nông Lâm. Khu nhà nữ công nhân
rộn rịp người ra vào, nhộn nhạo
những tiếng cười, tiếng mời chào,
tiếng tay đấm lên lưng thùm thụp. Đào
không đi chơi đâu. Một lá thư mới
nhận làm chị bàng hoàng. Ông trung đội trưởng
già phụ trách lò gạch mới gặp chị có vài
bận mà đã dám ngỏ lời táo bạo.
Mới đọc được mươi dòng
chị giận dữ tưởng như có thẻ xé
vụn từng mảnh được, người
ta coi thường chị đến thế kia ư.
Nhưng khi gập lá thư lại thì một cảm
giác êm đềm cứ lan nhanh ra, như mạch nước
ngọt rỉ thấm vào những thớ đất
khô cằn vì nắng hạn, một nỗi vui sướng
kì lạ rào rạt không thể nén lại nổi,
khiến người chị ngây ngất, muốn cười
to một tiếng, nhưng trong mi mắt lại như
đã mọng đầy nước chỉ định
trào ra. Từ ngày góa bụa đến nay chưa ai
nói với chị một câu nào yêu thương,
một lời gắn bó, chưa ai khao khát đến
chị, coi chị là nguồn hạnh phúc của
họ, là niềm an ủi cho họ. Những dòng,
những chữ trong bức thư xa lạ cứ ngân
vang mãi trong lòng chị, vang dội đến tận
những kẽ ngách sâu kín nhất, thức tỉnh
nỗi khao khát yêu đương, khao khát hạnh phúc
mà chị cố hắt hủi, vùi nén một cách
bất lực từ ngót chục năm trời nay.
Cho đến lúc này chị chưa có ý định
gì rõ ràng với ông trung đội trưởng
mới quen biết, nhưng trong cái dòng nghĩ miên
man thế nào chị lại hình dung ra cách đối
đãi với đứa con riêng của người
rồi đây sẽ gọi là chồng. Nó yêu quý
chị hay thù ghét chị, chị sẽ để nó
ở dưới xuôi, hay đem nó lên trên này. Và khi
sự tính toán trở nên quá rõ ràng chị vội
nhổm dậy, thầm chê trách mình: "Rõ hay chưa,
đã ra thế nào mà nghĩ vớ vẩn".
Giường nằm của
Đào kê sát giường của Duệ, cách nhau có
một cái bàn đóng bằng tre. Duệ, một
nữ thanh niên ở ngoại thành Hà Nội, cũng
mới lên nông trường Điện Biên vào
dịp ngoài Tết, đang ghé mặt sát vào gương
cặp nốt một bên tóc, rồi đưa hai tay
thoa thoa lên má, quay lại nhìn Đào cười ngượng
nghịu:
- Chị không đi chơi à
?
Đào nhìn đôi mắt tròn
to của Duệ có những sợi lông mi rất thưa
và hai cái bím tóc nhỏ bằng ngón tay cái buộc
chỉ đỏ ở hai đầu, khẽ nói:
- Anh ấy sắp xuống chơi
đấy.
Duệ đưa mắt nhìn
xuống năm đầu ngón tay còn thon thảó nhưng
đã vàng sẹm, lặng im một lát:
- Mặc người ta
chị ạ, em không thích nói chuyện ấy đâu.
Hai bên mép Duệ khẽ
nhếch lên, đầu lắc lư rồi Duệ
quay đi nhìn phía khác. Từ cánh cửa bên, Huân
đã bước vào, tay cầm ống tiêu dài, chào
mọi người rồi ngồi xuống cuối
giường của Đào, nhìn Duệ hỏi không
tự nhiên lắm:
- Duệ tập nốt bài
"Tình ca Tây Bắc" hôm này còn hát chứ!
Hai cái đuôi bím buộc
chỉ đỏ vẫn đưa đi đưa
lại trên ngực. Huân nhắc lại:
- Thế nào?
Duệ đáp lí nhí:
- Em không tập đâu.
- Chịu khó một chút.
- Em không biết hát.
- Thì hát như hôm nọ là
được, chỉ cần luyện thêm một chút
nữa thôi.
Duệ thở dài:
- Em không hát được
đâu.
Huân đưa tay lên vuốt
ngược mái tóc óng mượt, anh định cười
thật tự nhiên, nhưng môi đã đờ ra và
hàm răng lạnh buốt.
- Cô giận tôi đấy
ư?
- Anh có gì mà em giận.
Huân thở dài rất
nhỏ, nhìn Đào nói gượng một câu:
- Chị không đi chơi
một lúc cho đỡ buồn.
Đôi mắt hẹp của
Đào loang loáng nhìn sang Duệ, cặp môi như mím
chặt lại, gò má lại càng dồ lên đanh
đá:
- à, khi buồn non nước
cũng buồn. Khi vui gánh đá lên nguồn vẫn
vui.
Lúc chị nhìn lại Huân
định hỏi một câu thì anh đã chạy ra
đến ngoài rồi.
Huân không về thẳng nhà,
anh rẽ sang nhà kho, trèo lên cái bệ cao giát
nứa, hai chân buông thõng xuống, chống tiêu lên
đùi, nhìn ra cánh đồng lạc mờ mờ
xanh nhạt ánh sao ở phía trước. Tình yêu
giữa anh và Duệ mới nhóm lên đã nguội
lạnh rồi sao? Ngay buổi đầu nói
chuyện với cô gái mảnh khảnh, rụt rè,
Huân đã có cảm giác rằng cô ta sống không
thể thiếu anh được. Cái khỏe
mạnh về tinh thần và thể chất của
anh sẽ là chỗ dựa tin cậy cho cái vóc dáng
mảnh dẻ của một người mới bước
vào đời. Anh muốn đem lại hạnh phúc
cho người yêu mà không đòi được
trả lại. Nhưng chính cái trách nhiệm với
người mình yêu đã đem lại cho anh sự
say sưa làm việc chưa từng có, sự sung sướng
được đưa tay ra nâng một người
khác lên ngang tầm với mình, và lòng tự hào
về cái tình yêu rất trong sáng đó.
Trăng đã bồng
bềnh nổi lên qua dãy Pú Hồng. ánh trăng
lọc qua lớp sương mỏng uyển
chuyển như khói, khiến khung cảnh mờ
nhạt một cách huyền ảo. Huân lại
thổi tiêu bài ưa thích của mình "Tình ca Tây
Bắc". Anh không thích hát, vì những bài anh
thuộc đều nhạt nhẽo, vô vị, nhưng
khi những chấm nhạc không có linh hồn
được âm thanh của tiếng tiêu điêu
luyện chắp cánh cho bay lên thì những kỷ
niệm xa xưa tưởng đã quên lãng từ lâu
phút chốc lung linh kéo đến... Qua dãy núi này,
qua mấy cánh rừng nữa là sang đất Thượng
Lào rồi. Đất Lào những ngày kháng
chiến, hành quân trong rừng hàng trăm cây số,
đêm ngủ lại bên những sườn núi chon
von, phải đào huyệt để giữ người
khỏi lăn xuống vực thẳm. Những ngày
rét buốt xương, há hốc mồm mà không
thể nói, vê điếu thuốc lào không chặt,
cầm que diêm rơi lúc nào không biết, có người
đặt lưng nằm xuống là cứ nằm như
thế mãi mãi... Cũng chẳng ai ngờ khu pháo binh
tây Hồng Cúm của giặc năm xưa lại là
bãi trồng lạc của đội sản xuất
số "6". Mới mùa xuân năm ngoái đất
này còn ngập lên một rừng cây chó đẻ,
dây thép gai, mìn, vỏ đạn đại bác,
nhừ nát vì những hố bom, những giao thông hào.
Rải rác còn có những đoạn xương người,
những mảnh vải nhựa, vài lưỡi
xẻng hoen rỉ, một gói tiền bọc vải
đã mục nát, những khẩu súng ngắn và
tiểu liên, dấu vết còn lại của
những người anh hùng Điện Biên ngày trước.
Mấy tháng trời liền, lưỡi xẻng
đi trước, vết chân người theo sau san
rừng, đào cây, gỡ mìn. Có người đã
hy sinh, có người mang thương tật, dây thép
gai chọc nát bàn tay, mồ hôi thấm rách từng
loạt quần áo, người héo lại vì
nắng, vì gió Lào, mồm lở, chân phù vì
thiếu rau xanh. Mùa xuân còn đầy thương tích
chiến tranh, cuối hạ, đầu thu nước
lũ tràn ngập, mùa đông sương giá.
Một năm đã đi qua. Mùa xuân thứ hai đã
đến. Màu xanh thẫm của đỗ, của
ngô, của lạc, màu xanh non của lá mạ, màu
đỏ tươi của ớt chín lấn
dần lên các màu nham nhở, man rợ khác của
đất hoang... Một mảnh sô trắng làm rèm
che cửa, một giàn liễu leo có những chấm
hoa đỏ thắm ở mé hiên phía trước, bóng
lá loáng mướt của rặng chuối, màu vàng
ửng của khóm đu đủ, mấy con
ngỗng bì bạch ở mé nhà, tiếng guốc
đi lẹp kẹp, bóng dáng nặng nề của
những chị có mang ở khu gia đình, những
ngọn đèn le lói, mảng khói thuốc bay qua ánh
đèn trông rõ từng sợi xanh. Tiếng cười
the thé, tiếng thủ thỉ, tiếng la hét,
tiếng trẻ con khóc. Người ta làm việc, người
ta thân thiết nhau, yêu nhau và làm cho nhau đau
khổ. Những nỗi niềm, những tâm sự,
những mong ước. Cuộc sống vĩ đại
đã trở lại rồi. Nhìn công việc làm
mỗi ngày tưởng như con người bất
lực, nhìn lại cả một năm không ngờ
sức vóc của mình có thể thay đổi
được cuộc sống nhiều đến
thế. Mỗi chiều đi làm về, ngâm mình
xuống dòng sông Nậm Rốm, ngắm bộ
ngực dồ cao, những thớ thịt tròn trĩnh,
nhẵn nhụi, đỏ rực đầy tia máu,
Huân không ngờ thân hình mình vẫn giữ mãi
được vẻ đẹp ngày trước.
Những mũi gai thép đâm, những vệt
nứa cứa, những chấm đen ở lỗ chân
lông của bệnh sốt rét rừng, màu xanh
của thiếu ăn và bệnh tật đều
đã được những lớp tế bào
mới, xóa mờ đi, thay thế. Soi mặt trong gương
anh không thấy mình đổi khác mấy, có lẽ
chỉ thêm vài vết nhăn hơi hằn ở mi dưới
mắt, ở cạnh sống mũi, còn thì vẫn mái
tóc dày mượt ấy, đôi mắt hơi nâu
ấy, và hàm răng đều trắng. Nhưng
ngồi nói chuyện với Duệ thì anh biết
rằng anh đã thay đổi nhiều, chiến
tranh, gian khổ, năm tháng đã luyện cho anh
một nghị lực mà chỉ những lúc gặp
khó khăn mới thấy được hết
sức mạnh của nó, và sự hy sinh hồn nhiên,
giản dị cho lý tưởng của mình, cho
những người khác cùng đi với mình trên
một con đường...
Chợt có tiếng chân
giẫm sào sạo lên đống vỏ lạc
ở phía sau, Huân giật mình ngừng thổi, quay
lại. Từ mé trái của nhà kho nhô ra một bóng
người thấp lùn mặc cái áo cánh trắng
hớt vạt ra phía trước. Ai nhỉ? Bóng người
tiến lại phía anh: Đào. Anh định
nhảy xuống nhưng rồi cứ bối rối
tự hỏi: "Chị này ra đây làm gì? Định
gặp mình hay sao?". Đào đã đứng trước
mặt anh, hỏi nhỏ:
- Anh thổi tiêu đấy
ư, em thích nghe lắm đấy nhé!
Chắc vì tiếng tiêu nên
chị mới biết ra đến đây, hỏi gì
ỡm ờ thế, lại xưng em, cô này bắt
đầu thiếu đứng đắn rồi.
Đào đã đứng tựa người vào
cột bương, cả thân người trên
bị mái gianh che tối, tiếng nói dịu đi như
một hơi thở:
- Anh Huân ạ, em muốn tâm
sự với anh một câu chuyện.
Huân hầu như không nghe
thấy gì, anh luống cuống vì nỗi lo: "Có
người ra bắt gặp thì cả đôi tình
ngay lý ian. Liệu mà về thôi !". Nhưng anh
vẫn ngồi im. Tiếng của Đào lại
phảng phất tới:
- Anh biết anh Dịu
chứ?
- Ông thiếu úy lò gạch
ấy à. Có biết. Sao?
Giọng nói của Đào càng
rụt rè, khác hẳn với cách nói sống sượng
thường ngày.
- Anh ấy viết thư cho
em, định xây dựng gia đình với em, em khó
nghĩ quá... Anh thấy anh Dịu là người
thế nào?
à, ra là một câu chuyện
khác. Anh là người đầu tiên được
Đào thổ lộ cái tin vui ấy. Anh phải có
trách nhiệm với sự tin cạy của người
bạn gái. Nhưng biết trả lời ra sao?
Đào đứng nhích thêm
về phía Huân, chị vắt một tay lên sạp
nứa, hơi thở dồn dập dưới cái
áo cánh trắng còn thoảng mùi khét của xà phòng
- Em xem ra anh ấy cũng là
người thành thật, còn con anh ấy thì mình qúy
nó tất nó phải qúy mình. Chẳng ai ở
vậy được suốt đời, chẳng ai
muốn đi vất vưởng mãi, ai cũng
muốn có một quê hương. Em nghĩ mãi
rồi anh ạ, em định không về dưới
xuôi nữa, em ở mãi đây với các anh. Anh nghĩ
xem có được không?
Quê hương thứ
nhất của chị ở đất Hưng Yên, quê
hương thứ hai của chị ở nông trường
Hồng Cúm, hạnh phúc mà chị đã mất
đi từ bảy, tám năm nay ai ngờ chị
lại tìm thấy ở một nơi mà chiến
tranh đã xảy ra ác liệt nhất. ở đây
trong những buổi lễ cưới, người
ta tặng nhau một quả mìn nhảy đã tháo kíp
làm giá bút, một quả đạn cối tiện
đầu, quét lượt sơn trắng làm bình
hoa, một ống thuốc mồi của quả bom
tấn để đựng giấy giá thú, giấy
khai sinh cho các cháu sau này, và những cái võng nhỏ
của trẻ con tết bằng ruột dây dù
rất óng. Sự sống nảy sinh từ cái
chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những
hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con
đường cùng, chỉ có những ranh giới,
điều cốt yếu là phải có sức
mạnh để bước qua những ranh giới
ấy.
Đầu thu với những
hơi gió mát dịu bay lướt lên những khóm
lá xanh thẫm của cây có nghệ, những cụm
ké đồng tiền, những nụ hoa trắng
của cây rau tàu bay, và những bông hoa rền tía
đỏ thắm hình tháp bút. Mùa thu hoạch
lạc đã vào chặng cuối. Những chiếc
cáng chở đầy lạc từ các ngả
ngất ngưởng theo những vệt đường
mờ ngổn ngang những bụi cỏ bị
nhổ đã héo rễ kéo về khu máy tuốt.
Đào và Huân khiêng một cáng. Cái đầu
bịt chiếc khăn ô vuông nhọn hoắt
của chị thấp thoáng sau những đống
lạc chất cao. Hai bàn tay to và đen choàng lấy
ôm từng bó lớn chuyển lên cáng. Mồ hôi
chảy từng giọt dài trên gò má nham nhở
vết đất, những thớ thịt như căng
ra muốn xé rách manh áo nâu mỏng mặc ngoài. Lúc
nào chị cũng có cái dáng vừa thoăn
thoắt, vừa lừng lững. Huân chạy ra trước
cáng, anh quàng đoạn dây mây bằng vải
bạt qua vai, cúi rạp xuống, chiếc quần
ướt đẫm mồ hôi căng theo thớ
thịt, khuôn lấy cặp đùi rất tròn
của anh, hai bàn tay đỏ tía giữ chặt
lấy đầu cáng và anh nhấc bổng người
lên. Chiếc cáng nhẹ bẫng lao về phía trước,
cặp chân của Đào loạng choạng như
bị kéo đi, cái thân hình chắc nịch của
chị cứ lắc lư ở phía sau. Chị kêu lên:
- Ông mãnh ơi, đi ngắn
bước chứ!
Gió vẫn thổi rào rạt
khắp cánh bãi. Huân vừa bước những bước
dài, vừa nói to:
- Gió mát quá nhỉ. Thế là
năm nay ở đất Điện Biên không có gió
Lào!
Cái đầu nhọn
hoắt của Đào vẫn đưa sang phải,
sang trái, chị đằng hắng rồi hát véo von
ở phía sau:
... Tháng giêng phây phẩy gió
may
Tháng hai gió bấc, tháng ba gió
nồm
Tháng tư là gió dâng lên
Gió đóng cửa đền,
gió động năm cung
Tháng năm cất gió đùng
đùng
Bước sang tháng sáu gió
rồng phun mưa
Tháng bảy thì gió vừa
vừa
Bước sang tháng tám gió
đưa đòng đòng...
Giờ nghỉ sáng nay có thêm
một rá lạc luộc. Cả hai, ba tổ cùng kéo
lại ăn chung trò chuyện cho vui. Lâm ngồi
dạng chân, tay tách lạc, mắt nhìn Đào
nhấm nháy:
- Thế nào cô em, có bao
giờ cô em về dưới xuôi cho tôi gởi
nhờ cái này.
Đào vênh hẳn một bên
mặt, môi chúm lại, mắt đưa đẩy:
- Về là về cửa
về nhà. Một trăm năm nữa mới đà
về quê.
Lâm vỗ đùi thét lên :
- Cô em tôi thay đổi thái
độ rồi ! Huân ơi, làm một tiết
mục văn nghệ mừng bà chị, mày !
Huân bước ra, lật cái
khăn bịt đầu khâu bằng vải
trắng, cúi xuống rất thấp chào mọi người
:
Đào liếc nhìn Huân cười
tủm tỉm:
- Lại sắp, lại
sắp...
Nét mặt Huân nghiêm trang
hẳn lên, anh bước lên một bước,
một tay chống cạnh sườn, hệt như
lối đứng của Đào, một tay uốn
éo đưa ra phía trước, một đoạn
kịch vui sắp bắt đầu. Duệ cùng hai cô
nữa cắp giành đi mót lạc cũng vừa
đến. Duệ đặt chiếc giành trắng
xóa những mầm lạc tươi vào một góc,
khẽ lách người đứng cạnh chiếc
máy tuốt. Hai con mắt có những sợi lông mi thưa
cứ chớp lia lịa. Mọi người quay
lại nhìn Duệ cười rất có ý nghĩa. Lúc
bình thường Huân hay có tính thẹn, nhất là
trước mặt người mình yêu, nhưng khi
đã bước ra khoảng trống, hàng trăm
con mắt dồn vào, anh trở nên bạo dạn,
hoạt bát. Tất cả những người đứng
trước mặt chỉ là những khán giả ham
chuộng tài nghệ của anh. Thấy Duệ nhìn mình
Huân khẽ nhún đầu gối xuống, một
mảng tóc đen nhánh xòa xuống trước trán.
Tất cả vỗ tay coi như tiết mục
mở màn.
Tôi lạy ông Cầu bà Quán
Phù hộ cho mẹ đĩ
nhà tôi
Nó ăn nó chơi
Nó tươi nó cười
Như con ngựa ngáp
Làm ăn chậm chạp
Có tính nỏ mồm
Đi chợ bao nhiêu khoai lang
củ từ cũng chứa
Vớt bèo thì ngứa
Xay thóc nhức đầu
Chăn trâu ngã nắng
Chồng giận chồng
mắng, có tính hờn cơm
Ra chân đóng rơm
Cắn chắt trừ bữa
Duệ yêu Huân cũng bắt
đầu từ những cuộc biểu diễn văn
nghệ trong giờ nghỉ. Cô mê say anh bởi
cặp mắt dịu dàng, quyến rũ, cái
miệng rất có duyên, một thân hình khỏe
mạnh, cân đối. Đôi khi cô cũng thích tâm
sự với anh vì anh rất hiểu tâm tình của
người khác, biết an ủi và khuyến khích
đúng lúc. Nhưng ngoài những nét đáng yêu
của Huân mà bất cứ ai mới gặp anh
lần đầu đều nhận thấy ngay
Duệ chẳng hiểu được thêm chút nào
nữa. Tình yêu của cô đối với Huân
bồng bột và bề ngoài, dễ thay đổi.
Có lúc cô thấy yêu Huân tha thiết, có lúc lại lưỡng
lự vì câu hỏi: anh ấy có thể đảm
bảo cho đời mình được sung sướng
không, mình còn có thể gặp được
một người nào hơn thế nữa? Cùng
một trung đội với Huân, Duệ còn có
cảm tình với Hào, trẻ hơn Huân vài
tuổi, là giáo viên văn hóa của đội,
lại sắp được về Hà Nội thi vào
trường Đại học Nông Lâm. Hiện nay
anh ấy chỉ là một chiến sĩ bình thường
nhưng ba năm nữa anh ấy sẽ lả
một cán bộ kỹ thuật, một kĩ sư
biết đâu. Hai người cùng đi nhổ
lạc với nhau nhiều buổi, đã trò
chuyện với nhau mấy tối ở mé nhà kho. Nhưng
Duệ vẫn lo lắng vì Hào tỏ ra quá khôn ngoan
trong tình yêu, anh ta dè dặt ngay cả những lúc sôi
nổi nhất. Anh khuyên Duệ chỉ nên coi anh như
một người bạn, sau này anh tốt
nghiệp rồi, có công việc rõ ràng rồi
tới lúc ấy hai người bàn chuyện xây
dựng cùng nhau cũng chưa muộn. Nhưng đến
cái ngày xa xôi và mong manh ấy liệu anh còn nhớ
đến lời hứa năm trước không?
Huân vừa đi quanh theo
một đường tròn vừa nói lối, hai tay
uốn éo, nhưng mặt vẫn tỉnh khô. Các cô
cứ ôm lấy nhau cười rũ ra, nước
mắt giàn giụa, còn những người khác thì
vỗ tay làm nhịp cho câu nói.
Nay lần mai lứa
Mày giống tính ai
Lâm hất đầu về
phía Đào, gào to: "Giống tính cô Đào!"
Phải như mọi khi Đào đã bật lên, tìm
một câu thật cay chua để đáp lại, nhưng
hôm nay chị sẵn sàng tha thứ cho mọi câu
đùa tinh nghịch. Tất cả đều là
những người đáng yêu, tất cả đều
vun xới cho hạnh phúc của chị, đấy là
anh em, là người làng, là họ nhà gái cả.
Duệ ngồi ghé lên trên nắp máy tuốt, hai chân
đu đưa, cái đuôi bím buộc chỉ đỏ
vẫn ngọ nguậy trước ngực. Cô
chẳng để ý đến lời hát, cứ
mỗi lần Huân bắt chéo sang phía khác, cô
lại đưa mắt nhìn theo anh, nhưng khi Huân
quay mặt về phía cô thì cô lại cúi xuống lúng
túng và có cảm giác hai tai mình đỏ chín. Cái
giọng cố làm ra ẽo ợt của Huân cứ
loáng thoáng bên tai:
Nhà thì có giỗ
Luộc gà hai mề
Thổi cơm thì khê
Rang vừng thì cháy
Con mắt hấp háy
Ăn vụng rất nhanh.
Tối thứ bảy. Gian nhà
của vợ chồng Lâm ở khu gia đình
chật ních người. Một ngọn đèn
dầu sáng vàng ánh vào đĩa kẹo lạc,
kẹo vừng, bánh khảo, nước chè mạn nóng.
Người ngồi vây quanh cái bàn nhỏ và trên
chiếc giường đóng bằng tre rất vuông
vắn. Huân ngồi ở một góc trịnh
trọng uống từng hớp rượu nhỏ.
Mỗi hớp môi anh lại mím lại, đôi lông mày
mịn và đen nhánh khẽ nhướn lên.
Ngồi cạnh anh là Lộ, tay lái máy kéo của nông
trường, vừa đến đội sản
xuất số "6" sáng nay để cày bãi
lạc, chuẩn bị gieo ngô vụ thu. Nét mặt
mọi người mờ đi sau làn khói thuốc lá.
Có người đề nghị chị chủ nhà hát
tặng anh em một đoạn chèo hoặc một
khẩu tuồng gì đó, vì chị trước
đã ở đội tuồng của xã. Lựu,
vợ Lâm ngồi ở mé sau giường, tóc
vấn trần đầy những cặp tóc lớn
nhỏ sáng nhoáng vội vàng kéo cánh màn che lấy
mặt mình. Cô em chồng lôi tay chị dâu năn
nỉ:
- Kìa, chị hát một bài
cho chúng em nghe nào !
Hai con mắt Lựu sáng
rực lên lóng lánh, chị co dúm người
lại, cười ngặt nghẽo:
- Ôi giời ơi, các anh
ơi, em không biết hát đâu !
Cái giọng miền trong
ỏn ẻn, lên bổng xuống trầm, mới nói
thường đã dễ nghe. Lộ gật đầu:
- Cứ hát như câu vừa
rồi là được, cũng còn hay hơn
giọng chúng tôi nhiều.
Lựu đằng hắng, mím
chặt môi để khỏi cười, nhưng các
bắp thịt trên mặt chị vẫn động
đậy.
- Vâng, vậy thì em xin hát
hiến dâng các anh một bài.
Chị vừa hát được
hai câu cải lương cô em chồng đã
chạy vào một góc nhà bưng miệng cười
rúc rích. Lựu không hát nữa, gục đầu vào
vai người ngồi cạnh, rồi nằm lăn
ra giường, hai tay bưng lấy mặt rên
rỉ. Cô em chạy lại phát vào mông chị:
- Chị Lựu, chị làm trò
hề đấy ư!
Lựu vẫn nức nở
trong cơn cười bị nén lại.
- Ôi giời ơi, em ơi,
sao em lại nỡ bảo chị thế !
Vừa lúc ấy, Đào và
Duệ đứng lấp ló ở ngoài nhìn vào. Lâm
đang pha nước liếc trông thấy vội
đặt ấm xuống chạy ra, mồm mời
liến thoắng, hai tay kéo hai người. Lựu cũng
ngồi phắt dậy, vấn lại tóc.
- Chị Đào ơi, chị
vào nhà em chơi, nay mai vợ chồng em lại đến
nhà chị.
Đào mặc chiếc áo cán
bộ cài khuy vải màu xanh nhạt, tóc búi trễ.
Duệ mặc chiếc áo màu hồng nhạt, cổ
bẻ vát, hai cái bím tóc vừa mỏng vừa
ngắn ve vẩy ở phía sau. Đào ngồi ghé
xuống cái ghế kê sát vách, mắt nhìn mọi người
lừ lừ, nhưng môi vẫn chúm chím. Duệ thoáng
nhìn thấy Huân ngồi ở một góc, chị bước
vội qua ngồi vào một mé giường quay lưng
lại phía bàn nói chuyện với Lựu. Nhưng
hai người nói với nhau những gì Duệ
chỉ còn nhớ mấy câu đầu. Mọi giác
quan của cô hầu như bị tê liệt ở
mặt trước, nhưng lại rất thính
nhạy ở mặt sau. Cô cảm thấy rất rõ
một ánh mắt đang ve vuốt hai cái bím tóc
của mình, mơn trớn những sợi tóc tơ
ở gáy, và chạy lướt lên những thớ
thịt ở lưng. Bên tai Duệ chỉ còn
lại có một tiếng thì thào rất quen
thuộc : "Em ơi, em phải tin vào em, em phải
tin vào anh. Em hãy vui lên đi !". Và trong lòng
Duệ cũng muốn thủ thỉ : "Em không
thể xa anh được, anh đừng để
em sống một mình... anh nhé! Lựu nhìn nét
mặt Duệ biến đổi rất lạ lùng,
chị mỉm cười tinh quái :
- Cô Duệ người khó
chịu có phải không ?
Tự nhiên nước
mắt Duệ giàn giụa cả ra má, Duệ
gục đầu vào cánh tay mình :
- Em về đây, người
em làm sao thế này.
Lâm giúi vào tay Duệ mấy
cái kẹo :
- Cô lại sợ chúng tôi
bắt cô hát chứ gì.
Huân cũng ngước đôi
mắt ánh nâu nhìn Duệ, nói dịu dàng:
- Hãy còn sớm Duệ ạ,
ngồi chơi một lát đã.
Chỉ một cái nhìn trìu
mến ấy, một lời nói thương yêu
ấy Duệ đã thấy chân tay mình rã rời, và
mặt cô nóng bừng. Duệ muốn kêu lên: "Em
đến chơi với anh từ lúc nãy sao anh không
nói với em một câu nào. Anh giận em hay sao?".
Nhưng Duệ không thể làm theo như ý mình, cô
chỉ đưa mắt nhìn xuống và trả
lời lạnh nhạt:
- Xin phép các anh, em phải
về.
Tuy không ai nói, nhưng mọi
người đều rõ câu chuyện của hai người.
Trông đẹp đôi thế ai ngờ cũng có
những trắc trở. Gian nhà đang ồn ào
bỗng lặng hẳn đi. Lộ nhìn Đào
cất tiếng hỏi trước:
- Chị Đào vẫn
giữ lời thề ngày nọ đấy chứ ?
Đào đu đưa cái
đầu, mắt chị lóng lánh:
- Thề gì nào ?
Tất cả cười phá
lên. Lộ vẫn nói thủng thỉnh:
- Thề ở vậy suốt
đời ấy mà.
Lựu hễ có dịp trêu
trọc ai lại trở nên hoạt bát hẳn:
- Anh Lộ mà hỏi lần
nữa thì chị ấy đã có cháu rồi.
Đào cũng mủm mỉm
cười, gò má đỏ ửng. Lộ uống
một hớp nước, nói tiếp:
- Chuyện ấy tôi đã rõ
cả rồi. Thế mới phải. Anh ấy nói
với tôi là định sau mùa lạc đấy.
Chị nghĩ thế nào ?
Kể ra ở cái cảnh hàn
nối cũng chẳng ai muốn kéo dài thời
kỳ thư đi mối lại làm gì. Tình yêu
của họ bao giờ cũng giản dị, rõ ràng
và không cần nhiều thi vị. Nhưng sau mùa
lạc thì vội vã quá. Hôm nay đã bắt đầu
cày vỡ chuẩn bị cho đợt gieo ngô
tới rồi.Chị lên đây mới được
hơn nửa năm nhưng trong hửa năm qua
đời chị thay đổi biết bao nhiêu, bàn
tay của chị đã làm qua nhiều công việc.
Mới gieo lạc ngày nào, bây giờ lạc đã
được mùa lớn. Dạo đi trẩy đỗ
chị mới gặp đồng chí thiếu úy lò
gạch lần đầu, hai bên nói chuyện
với nhau cũng dửng dưng. Thế mà hôm nay
bắt tay vào vụ gieo ngô, số phận hai người
đã gắn bó làm một. Chị nhìn mọi người
với con mắt biết ơn vì mặc dù họ
đùa bỡn, họ chế riễu nhưng tất
cả đều hoan hỉ vun đắp hạnh phúc
cho hai người. Chị nhìn Huân đang ngồi hút
thuốc lá ở một góc, thầm nghĩ: "Anh
Huân ơi, Duệ nó có hạnh phúc hơn tôi
nhiều vì nó có được một người
chồng như anh. Tôi hiểu lòng anh hơn nó, nhưng
tôi không ghen với nó đâu. Nó có quyền
được hưởng cái hạnh phúc tốt
đẹp ấy. Nó yêu anh lắm, anh hãy bạo
dạn lên đi".
Hồng
Cúm 3/8/1959
(Theo www.cinet.vnn.vn) |
|