- Tuyệt lắm!
Chúng tôi cùng vui vẻ vít cần.
- Ông mà ở lại đây lâu lâu
thì hay quá.
- Tôi sẽ ở chừng nửa tháng.
- Ðược đấy! Thế ông đã
đánh đám trận nào chưa? Anh hỏi tôi.
- Dạ, cũng có nhưng chỉ đánh
kiểu du kích. K5 các anh đánh thì khiếp lắm!
- Ôi dào! - Anh ngả người ra
sau, nói. - Trước tôi là chính trị viên đại đội. Bây giờ là "chính
trị viên làng" - Anh cười.
- Hồi bị thương, anh nằm bệnh
viện nào đấy?
- Chả bệnh viện nào cả. Anh kéo
vai tôi xuống, tiếp - Tôi nằm cái "bệnh viện Plei-O-K" này.
- Hay nhỉ!
- Hay gì ông? Các ông thì cái
gì chả hay? - Anh chống tay ngồi dậy, tiếp. - Ðùa chút cho vui chứ trận ấy,
đơn vị tôi được trên giao là phải hốt ba cái đồn dân vệ trên trục
đường quốc lộ. Hai kho đạn địch cách thị xã K ba mươi kilômét về phía
Tây. Nhiệm vụ nhiều, lại phân tán mục tiêu. Ðại đội tôi, thực ra chỉ còn
hơn chục tay súng. Giờ nổ hiệp đồng với mặt trận không được cách nhau quá
mười lăm phút. Tôi chỉ huy mũi chủ công, trực tiếp nắm tổ điểm hỏa diệt
kho đạn địch. Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, có thể
nói như thế. Sau trận đánh, rút về gần tới khu rừng tập kết thì không may,
chính ba anh em chúng tôi lọt vào ổ phục của địch. Tôi đi giữa, cậu Chung
đi trước. Nó bị thương, tôi thoáng thấy thế. Nhưng nó vẫn phụt được một
quả B40 rồi mới hy sinh. Thằng Châu cũng thế. Nó cũng bắn đâu được vài
loạt AK. Tôi không hiểu sao lại bật tít vào bụi, cách đó đến gần chục
mét! Hình như chúng tôi bị mìn và cả ÐK nữa. Tôi bị ngất khá lâu. Tỉnh
dậy, sờ lên mặt chỉ thấy máu. Bàn tay phải bị thiến phăng mấy ngón, còn
mặt tôi bị luồng lửa ÐK xoẹt qua! Vâng, chả hiểu sao lúc ấy tôi khỏe
thế? Tôi kéo lê khẩu súng bên tay trái, bò quanh đó tìm Châu, Chung. Nhưng
không thấy chúng nó đâu cả. Có thể chúng nó bị thương rồi địch bắt, lúc
ấy tôi nghĩ thế. Cũng có thể chúng nó hy sinh rồi bị địch kéo xác đi! Tôi
bò quẩn mãi, chỉ sờ mó thôi chứ mắt có thấy gì nữa đâu! Rồi cũng đến
lúc phải tính, tôi bò theo linh cảm vào rừng. Không biết bao lâu nhưng đến
khi mở được mắt đã thấy mình nằm bên đống lửa, chỉ có một khuôn mặt
xương xẩu, già nua, râu tóc xồm xoàm cúi xuống. Người ấy dùng nước rễ
cây tưới lên những chỗ bỏng và vết thương cho tôi. Sau này tôi biết điều
ấy. Vâng, ông già vợ tôi bây giờ đấy. Hôm đó ông đi săn, vớ được tôi
và cõng về cứu chữa. Ông già chỉ sống có một mình. Hai người con trai là du
kích đã hy sinh, còn mỗi cô út thì công tác xa. Bà lão mới mất trước khi
có mặt tôi vài tháng. Ông già sống lầm lì, suốt ngày chỉ nói vài câu cần
thiết. Tôi khỏi rồi ở lại với ông, với dân làng. Tôi học tiếng Gia Rai, học
việc của một người đàn ông Gia Rai. Tôi không về đơn vị nữa. Tôi về làm
gì khi bàn tay không còn cầm nổi súng. Tôi về làm gì, tôi hỏi ông? - Anh lay
mạnh vai tôi. - Tôi về làm gì khi đơn vị tôi, anh em đồng đội của tôi
đang phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn? Ông ạ, gạo phải tính bằng
tay, muối phải đong bằng nắp cù là, phải đếm từng hạt chia nhau. Mà nhiệm
vụ chiến đấu thì cứ nối tiếp nhau liên miên.Tôi là cán bộ tôi biết. Một
đại đội độc lập kiểu đơn vị tôi, lo được cho một thương bệnh binh khốn
khổ lắm. Căng thẳng lắm. Vừa quần nhau với địch lại vừa phải bảo vệ
thương binh, ông bảo đơn giản sao được? Mình thiếu thốn cắn răng mà chịu,
kiếm măng, kiếm rau ăn quáng ăn quàng cho xong. Chứ thương bệnh binh mà
thiếu, mà đói thì có tội với không những đồng chí mình, mà còn mang tội
với Ðảng, với dân nữa. Tôi về, mất đứt bốn năm đồng chí chuyên môn lo
cho tôi. Hơn thế, sổ gạo, muối dự trữ phải trích ra chi cho tôi. Mà cái
chính là tôi không cầm súng được nữa. Ðúng thế. Tôi mà về, anh em mừng
cho tôi nhưng lại phải lo cho tôi! Phải nai lưng ra gánh vác cho tôi. Tôi là
cán bộ tôi biết ông ạ. Tôi về là chỉ để được thấy anh em mừng là mình
còn sống thôi ư? Không! Tôi không về nữa. Thế thôi. Ðồng đội hãy tha thứ
cho tôi. Lúc ấy tôi nghĩ thế và tôi làm đúng theo ý nghĩ của tôi. Bây giờ
cũng thế, tôi sẽ làm đúng theo tôi nghĩ...
Chợt có tiếng chị gọi. Anh chạy
vào với chị. Một lúc sau quay ra, nét mặt có vẻ rạng rỡ hơn, anh túm tay
tôi:
- Ông ạ, chúng tôi mới sinh cháu
trai. Tôi vừa bảo nhà tôi sẽ đặt tên cháu là Thực. Rơ Lan Thực. Mẹ cháu
họ Rơ Lan, lại sinh đúng bữa nay có nguyệt thực, đặt thế để nhớ ngày hôm
nay được không ông?
- Tuyệt lắm! Xin chúc mừng anh
chị. Chúc mừng Rơ Lan Thực!
Chúng tôi lại đổ thêm nước
vào ghè và đặt cang uống chung. Tôi thấy anh có vẻ mệt nên bảo anh đi nghỉ.
Anh cười:
- Ông mệt à? Nếu không thì lo
gì tôi. Tôi đã trót nói với ông rồi! Tôi ở lại đây và thành người Gia
Rai. Tôi không về quê nữa. Nhưng ông ạ, hồi còn chiến tranh, mịt mù tin tức
còn có lý. Giải phóng rồi mà tôi không về. Mà tôi nỡ bỏ quê - Ðiều ấy
lúc nào cũng dằn vặt tôi...
Bỗng anh kéo đầu tôi xuống
hôn. Anh vò tóc tôi, tiếp:
- Tóc vợ cũ của tôi dày và
đẹp lắm! Mỗi lần chải, cô ấy phải đứng lên giường mà buông tóc xuống.
Vợ tôi đẹp nhất vùng, tôi dám nói thế. Cô ấy là kế toán hợp tác. Hôm về
phép trước khi đi B, vừa xuống xe ngang đường, tôi gặp cô ấy. Chà, cô bé
lên huyện có việc gì đó, lốp xe đạp bị xịt. Thấy có người dắt xe,
tôi đặt ba lô lên phócbaga. Ði được một đoạn mới có hiệu sửa, tôi bảo
vào vá xăm. Cô ấy cứ lúng ta lúng túng. Thì ra cô nàng hết tiền ông ạ.
Tôi nhận trả cho. Sửa xong, tôi đèo cô ấy về. Ðến gần làng thì gặp nguyệt
thực. Tôi dừng xe đứng xem. Tiếng gõ nong nia, thúng mủng từ trong làng vọng
ra nghe mà rùng rợn. Cô ấy nép sát vào người tôi mà thì thầm: "Gấu ăn
mặt trăng!". Hơi ấm từ người cô lan sang khiến tôi ngơ ngẩn. Vâng, tôi
đã nắm tay cô gái ấy từ lúc nào. Ðến lúc trăng sáng lại, chúng tôi sực
nhớ ra là mặc dù cùng quê, nhưng mới chỉ quen nhau được vài chục phút!...
- Hôm sau cô ấy đem tiền trả
tôi - Anh ngừng một lát, rồi tiếp - làm sao có thể nhận tiền trong trường
hợp như vậy, phải không ông. Nhưng kể cũng hay! Cứ đưa đẩy mãi hóa ra
tình cảm. Rồi chúng tôi yêu nhau. Cứ như tôi về phép chỉ để gặp cô ấy,
để cưới cô ấy. Xưa nay, ba anh em tôi đi đâu về cũng ở nhà ông chú. Bố
mẹ tôi mất sớm vì nạn lụt. Chú tôi trông nom chúng tôi thay cha. Hồi ấy
thằng em tôi đã đi nước ngoài. Cô út cũng đã lấy chồng, dạy học
tận một tỉnh sát biên giới phía Bắc. Tôi định về nhà với chú thím chục
ngày rồi lên ngược thăm em gái. Nhưng tình yêu đã níu chân tôi lại. Tôi
cưới vợ, khoác ba lô sang nhà vợ ở, điện cho em gái về chơi. Vâng, tháng
rưỡi phép cứ như trong mơ. Thời gian đối với tôi chưa bao giờ vụt nhanh
đến thế. Khi quất ba lô lên vai chia tay vợ, chia tay làng xóm, lên xe rồi mà
tôi vẫn thấy ngỡ ngàng...
- Rồi từ đó anh chị bặt
tin nhau luôn? - Tôi hỏi.
- Không. Tôi là thằng chịu khó
viết thư nhất đơn vị. Hành quân trên Trường Sơn vất vả là thế mà tôi
vẫn gửi đều đặn mỗi tuần một lá. Ðến đơn vị chiến đấu, bận hơn thì
mỗi tháng một lá. Sau này vì quá căng thẳng, tôi gửi thưa dần, chỉ khi nào
có dịp thuận tiện. Tôi cũng nhận được hai lá thư của vợ. Thế nhưng, từ
ngày bị thương, từ ngày tôi quyết ở lại đây thì không thư từ gì nữa!
Tôi đã thành người Gia Rai, thành người làng Plei - O-K này rồi. Mà đã thế
thì thôi, thì còn thư từ làm gì? Tôi hỏi ông - Anh lay mạnh vai tôi - Tôi
chỉ muốn - Anh tiếp - Ngoài bà con Plei-O-K ra, không ai nghĩ có thằng tôi trên
đời này nữa. Hãy để cho vợ tôi, em tôi, chú thím và bà con dân làng quê
tôi coi tôi là liệt sĩ. Có lẽ như thế tốt hơn. Tôi không có ý định lộ
mặt ra, mặc dù nhiều lần tôi không chịu nổi. Ngoài nông trường chăn nuôi
của huyện kia, khối anh em miền Bắc. Nhất là mấy sư đoàn bộ đội làm kinh
tế gần đây lại càng đông. Vâng, đã vài lần tôi ra nông trường chơi, tới
chỗ anh em bộ đội chơi. Họ không phát hiện ra tôi là người Kinh. Tôi lân la
hỏi thăm, cũng gặp vài anh em cùng huyện. Có hai cậu cùng xã. Nhưng anh em
còn ít tuổi quá. Hồi tôi đi B, chúng nó mới sáu, bảy tuổi. Tôi hỏi chuyện
làng xóm rồi đến chuyện gia đình. Nhưng hai cậu đồng hương ấy chẳng biết
gì cho rõ ràng cả. Họ hỏi sao tôi biết quê họ với lại quen nhiều người
thế? Tôi bảo tôi có được ra Bắc học và sơ tán về vùng quê họ mấy tháng.
Và thế là các đồng hương của tôi tin ngay! Một cậu bảo có biết "cái
chị ấy" - tức là vợ tôi, và thậm chí biết cả "anh chồng chị
ấy" - tức là tôi. Nhưng theo cậu ấy thì hiện nay anh ấy đã hy sinh ở
chiến trường, còn chị ấy hình như vẫn ở vậy. Cậu kia lại bảo hình như chị
ấy đã có con với ai đó. Trời đất, cái gì cũng hình như, hình như! Tôi
không thể chịu được. Nhưng mà trách ai? Anh em người ta có việc của người
ta. Mà dẫu tôi có hy sinh hay còn thì đối với họ cũng thế thôi. Tôi đã
mời được hai cậu đồng hương về nhà chơi. Tôi cư xử với anh em theo đúng
kiểu của người Gia Rai... Vâng, lúc gặp anh em thì tôi cảm thấy tôi đóng
kịch không đến nỗi kém. Vậy mà sau đó chỉ có một mình với những kỷ niệm
cũ, ông ạ, tôi không tài nào chịu nổi. Tôi như thằng tâm thần nhưng lại
cũng rất tỉnh táo. Tôi nói dối ông già là được trên cử đi học hai tháng.
Ông già bán con heo nái đang nuôi lấy tiền cho tôi, không hề nói gì. Thậm
chí ông còn vui hơn thường ngày. Sau này tôi mới biết, ông già cũng tinh ý
gớm. Ông bảo lúc ấy ông đếm được trong đầu tôi nghĩ những mưu mẹo gì?
Tôi chỉ nghĩ là đi chừng hai tháng. Về quê, tôi định thế. Nhưng với kế
hoạch không lộ mặt cho ai biết. Tôi thèm biết tình hình vợ và hai em
tôi, với lại được đi trên cánh đồng làng trong cảnh thanh bình quá! Rồi
tôi vào, nhất định thế. Tôi không bỏ ông già và dân làng Plei-O-K của tôi
được. Có lẽ như thế tôi sẽ yên tâm hơn, phải không ông? Hôm ấy tôi đi
sớm. Ra khỏi làng, trời còn mù sương, ngoái lại chỉ thấy những đốm lửa
nhập nhòe. Tôi vừa đi vừa chạy tới bến xe thì sáng. Tôi chỉ mặc độc một
bộ đồ bộ đội. Vâng, rủi cho tôi mà, cũng thật may cho tôi. Tôi lao vào xếp
hàng mua vé. Chỉ còn hai người nữa đến lượt tôi thì bỗng cửa bán vé sập
xuống. Hai chữ HếT Vé đập vào mắt tôi như một cái tát! Tôi bấm lòng
chờ mua chuyến trưa. Tôi xếp đầu tiên và cố không nghĩ ngợi gì. Thời gian
căng thẳng ấy rồi cũng qua. Cửa bán vé vừa mở tôi đã thọc tay, đưa tiền
vào. Cô bán vé định bán thì một người nào đó, cũng từ phía trong phòng
hỏi giấy. Tôi không có giấy tờ! Không có gì cả! Tôi bảo tôi là thương
binh, đi thăm bạn cũng là bình thường! Người ta hỏi: "Thế thẻ thương
binh của bác đâu?". Tôi đấm ngực: "Thế à? Tôi thế này mà cũng
phải thẻ à?". Người ta vẫn nhẹ nhàng: "Vâng, đã là thương binh
thì phải có thẻ thương binh, bác ạ". Tôi nuốt giận đi ra khỏi hàng.
Tôi chộp mua một nải chuối bằng số tiền định mua vé nắm trong tay, không
phải vì thèm ăn, mà tôi cứ mua, thế thôi. Tôi thấy một cháu bé chừng bốn,
năm tuổi đứng nhìn. Tôi đưa cả nải chuối cho nó. Ðứa bé bỗng khóc thét
lên, còn mẹ cháu thì lao tới, ôm ghì lấy con. Tôi ngơ ngác giây lát và sực
nhớ, mình không còn là người bình thường nữa! Tôi nuốt nỗi cay cực xuống
ngực và cắm đầu đi! Rồi tôi nằm vật trong một bụi cây. Ông già lại cõng
tôi về. Ông già theo dõi tôi, ông ạ. Ông bảo, tôi đi lọt thì cho đi, nhưng
nếu không lọt sẽ có chuyện xấu. Ông già đắp lá rừng mát cho tôi. Rồi tôi
cũng trở lại bình thường. Có đến vài tháng tôi không được khỏe lắm,
đêm nào cũng nằm mơ. Thậm chí cả lúc thức, cả ban ngày nữa! Khi thì thấy
thằng em tôi vào. Rõ ràng nó đang đứng ngoài cửa xách cái cặp sách ngày
xưa nó vẫn đi học. Tôi chạy ra thì nó biến đâu mất. Tôi quay vào chỗ cũ
lại thấy nó xuất hiện. Tôi ngồi im nhìn và nó cũng đứng ngoài cửa nhìn
tôi. Tôi quát lên: "Sao chú lại đứng đó?" "Em vào tìm
anh", nó nói nhẹ nhàng. "Không!" Tôi bảo nó: "Chú về đi.
Về lo công chuyện của chú đi. Anh không còn nữa đâu!". - "Anh nói
gì lạ vậy?", nó nói: "Anh vẫn còn sống. Hôm trước anh đã định về
với chúng em kia mà!". "Không!". Tôi bảo nó: "Chú nằm mơ
đấy!". "Chính anh đang nằm mơ" - nó nói - "Chính anh đang
tự dối mình. Anh ngu lắm!" Nó dám bảo tôi thế. "Anh không biết rằng
anh đang làm khổ chúng tôi, làm khổ chị ấy và chính bản thân anh nữa: -
"Trời ơi", tôi bảo nó. "Chú được học rộng biết nhiều mà
hiểu về anh hạn hẹp quá. Anh đã là liệt sĩ rồi. Anh hy sinh ngày giờ, năm
tháng nào chắc chú đã biết. Chú đã từng cúng giỗ và khóc anh. Vậy mà bây
giờ chú nỡ mắng anh như vậy? Người ta có nhiều cách biểu hiện lòng thương
yêu. Khóc là một kiểu và chú mắng anh cũng là một kiểu. Nhưng chú ạ, anh
đã hy sinh rồi. Chú hãy cứ tin như thế như chú đã từng tin bấy nay!..."
- "Không được!", nó lạnh lùng đáp. "Anh còn sống, em biết. Và
chính vì thế, anh đã làm khổ bao nhiêu người. Bây giờ đã đến lúc phải
nghĩ lại. Ðất nước hòa bình thống nhất rồi. Và anh đã góp một phần
xương máu vào sự nghiệp chung. Bây giờ anh có điều kiện được hưởng hạnh
phúc. Anh cứ về với bọn em đi! Anh về với chị dâu của chúng em đi!" -
"Này", tôi bảo nó: "Chú im miệng ngay đi!". Tôi cũng phải ra
vẻ cứng với nó. "Anh cấm chú không được nói năng như thế. Anh đã là
liệt sĩ rồi. Nhất định đơn vị anh, bạn bè, đồng đội của anh đã làm
chính sách đối với anh chu đáo" - "Không! Anh còn sống", nó vẫn
một mực. "Anh hèn lắm! Anh không dám chấp nhận sự thật" - "Sự
thật nào?". Tôi quát lên. Nó thì ngồi khóc, ông ạ. Em tôi nó khóc vì
tôi là liệt sĩ thật rồi! Mà liệt sĩ không phải đã chết, rõ ràng thế. Tôi
bảo nó: "Chú đừng tưởng, chú ạ. Chính liệt sĩ, chính những người anh
hùng vô danh, những người không có tên tuổi; những người vì Ðảng, vì dân
vì tổ quốc - họ đã chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Họ hy sinh.
Ðúng! Nhưng hy sinh thì không phải là chết! Họ sẽ sống lâu hơn chúng ta.
Chú đừng tưởng. Tôi phải nhắc lại với chú: chú đừng nghĩ chú được học
rộng, biết nhiều mà hiểu thấu mọi nhẽ. Chú đừng mong tôi phải ân hận, phải
nghĩ lại gì cả. Mỗi con người được sinh ra, nếu chúng ta muốn thành người
tốt thì trước nhất, chú ạ. Trước nhất phải làm tròn bổn phận của
mình...".
Anh buông tay, ngả người ra
sau tiếp:
- Tôi nói nhiều quá phải
không ông? Có lẽ tôi say rồi. Cũng có lẽ quá lâu chưa có dịp uống rượu.
Hôm nay vui quá. Thằng con tôi ra đời. Tôi đặt tên cháu là Rơ Lan Thực. Lúc
ông vào tôi đang nằm mơ nhớ cái đêm nguyệt thực ở quê.
Bây giờ thì anh ngả hẳn người
vào lòng tôi. Một lúc sau sực tỉnh, anh tiếp:
- Những ngày sau tháng Ba năm
Bảy lăm, chắc các ông sướng lắm nhỉ. Còn tôi, ông ạ! Tôi không dám cho
phép mình tự ra khỏi huyện. Ðó là nguyên tắc mà tôi đặt ra, là kỷ luật
mà tôi không cho phép mình vi phạm. Có những đêm tôi cứ lẩn thẩn nhớ lại
khuôn mặt từng anh em một trong đơn vị. Tôi điểm lại quân số những người
đã hy sinh từ khi tôi vào đến lúc tôi bị thương. Tôi nhớ hết cả tính
tình, khả năng từng người. Nói thật với ông, chỉ tính riêng đại đội tôi
thôi, anh em mà còn cả sẽ thành lập gần đủ một tiểu đoàn với những tay
súng kỳ cựu và dũng cảm. Có lần tôi mơ thấy tất cả anh em chúng tôi -
những liệt sĩ cùng đơn vị - tất cả, dưới sự hướng dẫn của tôi. Anh em
tập trung về làng Plei-O-K này để nghe tin tức trên đài giống như hồi còn
chiến tranh chúng tôi vẫn làm. Ðây, ông là nhà báo, chắc ông dễ thông cảm
với chúng tôi. Lúc nào anh em cũng muốn biết tình hình thời sự. Mà phương
tiện thông tin thì chỉ có mỗi cái đài của tôi. Báo chí thất thường và
chậm lắm. Nhưng hiện nay thì đài của tôi đã gói kỹ rồi. Pin đắt lắm mà
chẳng phải lúc nào cũng mua được! Ông bảo ông cho tôi pin hả? Thế thì hay
lắm, chút tôi sẽ mở đài cho cả thằng con tôi nghe. Chắc khi con chúng mình
lớn lên sẽ không còn thiếu pin nữa?...
Anh nhanh nhẹn cầm hai viên pin
tôi đưa, chạy vào nhà. Sau đó không lâu có tiếng đài rọt rẹt. Chị nói
vui với anh bằng tiếng Gia Lai:
- Không phải đài người ta cũng
mới sinh con trai đâu, mà còn thức khuya để nói.
Anh cười hì hì:
- Ðài không nói thì mình nói.
Mình mới sinh con trai, lại gặp bạn cũ, thức cả đêm chắc cán bộ phụ nữ
giận một nửa, thương một nửa nhỉ?...
Rồi anh bước ra. Chúng tôi đổ
tiếp nước vào ghè và vít cần. Tôi gợi chuyện:
- Ðã bao giờ anh kể chuyện
ngoài Bắc cho chị nghe chưa?
- Có - Anh buông cần, nói. - Lúc
chưa cưới, tôi kể hết. Cô ấy khóc. Sau này thì thôi. Nói làm gì nữa ông?
Chúng tôi đều là những người muốn có hạnh phúc cả. Nhưng bây giờ cái làm
tôi sợ nhất là chiêm bao ông ạ. Có lần tôi mơ thấy em gái tôi vào và khi
tôi tỉnh, tôi vùng dậy. Thấy tôi có vẻ hốt hoảng, nhà tôi ôm ghì tôi. Tôi
kể cho cô ấy nghe và cô ấy khóc. Tôi phải an ủi, giải thích mãi. Chiêm bao
là chiêm bao, còn sự thật vẫn là sự thật phải không ông? Tôi không tin
chiêm bao phản ánh đúng sự thật. Cô em gái tôi vào, tôi thấy thế. Nó dẫn
theo cả một đoàn cháu gái. Tôi mừng quá, reo lên. Nó thì đẩy vai tôi ra,
nói: "Bác còn sống đấy à?", nó dụi mắt và lao vào lòng tôi.
"Anh đã hy sinh rồi em ạ", tôi bảo nó thế. "Vâng", em
gái tôi tức tưởi. "Lúc nào anh cũng bảo anh đã hy sinh, đã là liệt
sĩ! Thôi thì em tin anh. Nhưng sao anh là liệt sĩ mà chẳng phù hộ em? Cháu
của bác đây. Bác xem lại đi, toàn cháu gái cả! Em sinh đến đứa thứ năm
rồi mà vẫn toàn con gái. Các chị nhắc em phải kế hoạch. Nhưng vợ chồng em
muốn có một cháu trai quá. Bác bảo bác là liệt sĩ, sao bác chả phù hộ vợ
chồng em? Chúng em dạy học trên miền núi có chục năm hơn rồi mà vẫn chưa
xin chuyển được về quê. Bác thì đã hy sinh, bác V công tác xa lắm, ai là
người lo giỗ chạp, hương khói cho ông bà, cho bác?". Rồi lại cả vợ tôi
nữa, ông ạ. Cô ấy cứ buông tóc xuống đất cho các cháu gái tôi tha hồ mà
chải. Tôi đến thu lại thì cô ấy bảo: "Sao cả tháng giời ăn ở với em,
em muốn có con, anh lại gạt đi. Anh bảo anh không muốn em vất vả mang thai, sinh
con mà vắng mặt anh. Bây giờ anh là liệt sĩ, anh có biết em sống vò võ một
mình buồn thế nào không? Anh bảo em đẹp ư? Trời đất, đẹp mà làm gì khi
không có anh trên đời này nữa? Tóc dày, tóc xanh mà làm gì khi không có
bàn tay anh luồn vào?..." Rồi cô ấy bảo tôi bạc. Rằng tôi sống như thế
là không có hậu. Rằng ít ra cũng phải nghĩ tới vợ, tới em, tới công lao của
bà con xóm giềng. Cô ấy bảo biết tôi còn sống, có một người mách với cô
ấy thế. Vợ tôi không bao giờ tin tôi có thể chết được, ông ạ. Trước hôm
đi B, tôi có nói đùa: "Nếu anh có lỡ việc gì...". Cô ấy gạt phăng
ngay: "Anh im đi! Không được nói gở thế. Chẳng bao giờ có chuyện gì xẩy
ra cả!". Bây giờ cô ấy nhắc lại với tôi điều ấy. Vâng, tôi nhìn vào
mắt vợ tôi và cô ấy, cũng nhìn tôi chằm chặp. Tôi bảo: "Em hãy bình
tĩnh. Hãy đặt mình vào hoàn cảnh của người khác và suy nghĩ...". Cô
ấy thét lên: "Anh không phải là người khác! Anh là của em! Hãy về với
em đi!". Tôi bảo: "Em hãy nhìn vào mặt anh đây. Hãy nhìn vào tay anh
đây. Bàn tay anh không còn luồn vào tóc em được nữa. Môi anh cũng không
còn bình thường để đặt lên đôi má lúc nào cũng như rắc phấn của em
được nữa!". Có thể tôi nghĩ thế là sai. Nhưng tôi nghĩ thế nào thì
tôi làm đúng như thế. ở đời, có những cái sai mà người ta cũng chấp nhận
được. Nhưng em thì tùy. Em có quyền trách cứ tôi. Vì yêu em mà tôi xử sự
với em không phải.
Bỗng anh ngửa cổ ra sau, nói:
- Không! Tôi là liệt sĩ rồi,
ông ạ. Tôi là liệt sĩ như muôn ngàn đồng đội chúng ta là liệt sĩ. Em là
vợ tôi, em là vợ liệt sĩ như muôn ngàn chị em có chồng đã hy sinh. Và
điều ấy an ủi tôi. Em có quyền tự hào về tôi và cả về em nữa. Chúng anh,
những liệt sĩ, em ạ. Chúng anh không sống cho mình và cũng không chết chỉ cho
mình . Nhưng anh mắc lỗi vì có em trên đời này. Biết làm thế nào khác
được? Tổ quốc đối với anh là em, là bà con xóm làng mình. Nhưng lại không
phải chỉ có thế. Tổ quốc còn là ông già Gia Rai đã cứu anh, còn là bà con
dân làng Plei-O-K này nữa. Tổ quốc là tất cả. Là Ðảng mình, dân mình, là
tất cả! - Anh vươn tới chụp mạnh vai tôi, lay lay - Tổ quốc là những đêm
chúng mình xuống đồng bằng cõng muối, gùi gạo. Thèm đồng bằng quá. Thèm
chui vào bếp lửa quá. Thèm được nghe tiếng ruộng lúa dẫm bùn, sặc sụa mùi
phân quá. Thèm được nghe tiếng trẻ khóc, tiếng la rầy của mẹ quá. Thèm
được phanh cúc ngực trên đồng hát nghêu ngao quá.
Chợt anh cắn mạnh vào cánh tay
và sực ngẩng lên, nhìn tôi:
- Tôi đang nói chuyện với ông
nhỉ? Thỉnh thoảng tôi cứ phải hoặc cắn vào cánh tay mình như thế. Hoặc đá
vào cái gì đó cho rõ đau để biết mình đang tỉnh hay nằm mơ. Có lẽ thần
kinh tôi yếu rồi. Nhưng tôi với ông là đồng đội, chúng mình hiểu nhau hơn.
Từ ngày quyết định ở lại đây, tôi không nghĩ là tôi sẽ lấy vợ. Thật
thế, thề có mặt trăng đêm nay! Tôi ở với ông già gần chục năm. Mãi năm
kia ông già ốm nặng rồi qua đời. Cô út về chăm sóc và chịu tang. Chúng tôi
lo cho cụ chu đáo đúng với phong tục của người Gia Lai. Sau đó tôi mới biết
cô ấy đã có chồng và chồng cô cũng là liệt sĩ. Vâng, chúng tôi yêu nhau.
Dân làng vun vén cho chúng tôi. Tôi được bà con tín nhiệm. Tôi đem hết
năng lực ra làm những gì có thể làm được. Rồi tôi được vào Ðảng. Ðúng
hơn, tôi được chi bộ và Ðảng ủy xét cho sinh hoạt lại. Bây giờ tôi phụ
trách công tác thông tin văn hóa xã, ông ạ. Ðội chèo của chúng tôi không
những đã vững vàng có thể nói như thế. Chúng tôi còn đang ra sức tập tành
để hội diễn văn nghệ quần chúng sắp tới đạt được giải một cách bất
ngờ...
Anh ngả hẳn người vào tôi nhìn
trăng. Anh lại kéo má tôi hôn tới tấp. Rồi anh thì thầm:
Vừa rồi tôi đã nói gì với
ông, tôi không nhớ nữa. Có lẽ tôi say. Nhưng hôm nay vui quá! Suốt từ sáng
dân làng tới mừng cho vợ chồng tôi. Chả có gì phải ân hận nữa phải không
ông? Thằng con tôi đã xóa đi mọi cực nhọc cho tôi. Ông nên nhớ rằng, tôi
không có ý định thay đổi lại cuộc sống. Chỉ có một điều, ông có điều
kiện, khi nào về quê tôi chơi, ông thăm dò giúp tình hình vợ và hai em tôi.
Nhưng bằng giá nào cũng không được để lộ ra là tôi còn sống. Tôi tin
ông, ông giúp tôi nhé. Chúng mình sẽ thư từ cho nhau. Mai tôi ghi địa chỉ
cho ông...
Và anh nằm gối đầu lên đùi
tôi ngủ. Anh ngủ ngon lành như không phải vừa rồi đã nói ra những điều sâu
kín của đời mình.
*
* *
Sau chuyến công tác Tây Nguyên,
tôi thu xếp xuống miền quê anh ngay. Trong thời gian đó, tôi ở nhà đồng chí
chủ nhiệm, xuống các đội sản xuất lấy tài liệu. Lân la trò chuyện với bà
con xã viên, tôi được biết chị P. Vợ anh, năm 1970 nhận tin chồng hy sinh.
Người ta kể rằng, chị bị ngất nhiều lần khi nghe tin đó. Nhưng cũng
như nhiều chị em có chồng hy sinh ở chiến trường, chị đã vượt qua . Chị lao
vào công tác và được trên cử đi học đại học nông nghiệp tại chức. Năm
1975 chị tốt nghiệp và nhận công tác trên phòng nông nghiệp huyện. Năm 1977
chị lấy chồng, anh K. chồng chị cũng là bộ đội chuyển ngành. Họ đã có một
cháu trai. Người ta còn kể rằng , anh K. hiền lành, rất chu đáo với vợ con.
Xóm làng, mỗi khi nhắc tới tên anh đều được nghe những lời tốt đẹp. Tôi
còn biết thêm, anh V. em trai anh đã về nước, hiện đang công tác ở một viện
nghiên cứu khoa học của Trung ương tại Hà Nội. Cô em gái anh chuyển xuống
gần anh V. Vợ chồng cô có hai cháu, một trai, một gái.
Sau khi rời hợp tác quê anh, tôi
còn ghé phòng nông nghiệp huyện, định tìm gặp chị P. Nhưng chị đã đi công
tác phong trào. Anh K. đang nghỉ phép, dẫn cháu về quê nội. Tôi rất tiếc
không được trực tiếp gặp chị. Nhưng kể thế cũng có cái hay. Ðiều gì cần
biết về chị tôi đã biết rồi. Và tôi cũng đã báo tin cho anh. Tuy nhiên,
tôi muốn nói thêm dòng cuối là, trong câu chuyện này, tên anh, tên chị, tên
những người thân của anh và cả quê hương cũng như vùng đất của anh đang
sống, chỉ là những chữ cái tình cờ mà tôi đặt ra.
Hà nội, 10-1982
(1) Cang: Ðơn vị
đo rượu cần của đồng bào Tây Nguyên.
|